Thông báo - Giấy mời

 

image advertisement
image advertisement
image advertisement



image advertisement

image advertisement
image advertisement

image advertisement

image advertisement

image advertisement




image advertisement

 image advertisement

 image advertisement

image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 25
  • Hôm nay: 88
  • Trong tuần: 33 885
  • Tất cả: 7699602
Một số câu hỏi tại hội nghị tập huấn Nghị định số 118/2021/NĐ-CP tại Nam Định
Lượt xem: 148

1. Không có thông tin của người hỏi

Khi tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, mà tổ chức là cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thì:

Nguồn tiền dùng để nộp phạt được lấy từ nguồn nào? Vì Ngân sách nhà nước giao không có dự toán để dành khoản tiền nộp phạt.

Ví dụ cụ thể: Có 01 trường THPT công lập bị cấp có thẩm quyền phạt 200 triệu, do có hành vi vi phạm trong sử dụng đất công ích, đất của đơn vị khác, đất của nhân dân. Hiện tại nhà trường chưa có nguồn để nộp phạt.

Trả lời:

Điều 83 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) chỉ quy định quản lý tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, không quy định về vấn đề “nguồn” tiền nào của cá nhân, tổ chức bị xử phạt sử dụng để nộp phạt, trong đó có cả đối tượng bị xử phạt là đơn vị sự nghiệp công lập.

Hay nói một cách khác, vấn đề đồng chí hỏi (nguồn tiền mà đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng để nộp tiền phạt vi phạm hành chính) nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật XLVPHC.

2. Không có thông tin của người hỏi

Về việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định mà pháp luật chỉ quy định cho 03 cơ quan là Viện KS, Toà án, cơ quan điều tra được phép giám định.

Vậy việc xử lý vi phạm hành chính thông thường thì cơ quan nào được quyền giám định.

Trả lời:

Câu hỏi của đồng chí cần hiểu rõ hai vấn đề, cụ thể là:

Thứ nhất, về người có quyền trưng cầu giám định trong xử phạt vi phạm hành chính.

Khoản 1 Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: “Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định...”.

Căn cứ vào quy định nêu trên của Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020), có thể thấy rằng, chủ thể có quyền trưng cầu giám định trong xử phạt vi phạm hành chính là người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm đó.

Thứ hai, về người (cá nhân, tổ chức) thực hiện giám định tư pháp.

Khoản 4 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 - Luật Giám định tư pháp (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: “Cá nhân, tổ chức giám định tư pháp bao gồm giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc”.

Căn cứ vào quy định nói trên của Luật Giám định tư pháp (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp, bao gồm:

(i) Giám định viên tư pháp;

(ii) Người giám định tư pháp theo vụ việc;

(iii) Tổ chức giám định tư pháp công lập;

(iv) Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập; và

(v) Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc.

Các cơ quan mà đồng chí nêu trong câu hỏi là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền trưng cầu giám định tư pháp.

3. Điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính là 02 đến 05 ngày tuỳ tính chất vụ việc, nếu lập sau 02 ngày đến 05 ngày đó thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14) quy định: “Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này”.

Thứ hai, điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC quy định: “Biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính”.

Thứ ba, điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định: Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu có vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng, trường hợp quá thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính (02 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính), người có thẩm quyền mới xem xét, tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính là vi phạm thủ tục trong xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, trong trường hợp này, khi phát hiện ra có vi phạm về thủ tục ban hành quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính (biên bản vi phạm hành chính lập quá thời hạn mà pháp luật quy định), thì người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của người có thẩm quyền phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định theo quy định của pháp luật.

4. Khoản 1 Điều 63 Luật XLVPHC quy định về thời hạn chuyển hồ sơ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính, trong vòng 03 ngày cơ quan tiến hành tố tụng ... phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn 03 ngày thì có tiếp nhận hồ sơ không? Nếu không thì giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: “Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực”.

Thứ hai, điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định: Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu có vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên cho thấy, nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày một trong các quyết định (không khởi tố vụ án hình sự, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can) có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự mới chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì cũng thuộc trường hợp vi phạm thủ tục xử phạt. Do đó, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc vi phạm không tiếp nhận hồ sơ vụ việc vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến, mà trả lại hồ sơ vụ việc vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự đã chuyển hồ sơ.

Việc không tiếp nhận hồ sơ vụ việc vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến vì có vi phạm quy định về thủ tục, thì trách nhiệm xử lý tiếp theo đối với vụ việc không thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã từ chối, không tiếp nhận hồ sơ vụ việc.

5. Các câu hỏi của UBND huyện Giao Thuỷ

Đ ngh giải thích rõ khái niệm “Bàn giao công trình hạng mục công trình theo  quy định” tại khoản 2 điều 5 Nghị định 16/2022/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng:

Điểm a: Thời điểm chấm dứt hạnh vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt VPHC đối với hoạt động xây dựng được tính từ ngày bàn giao công trình, hạng mục công trình theo quy định.

Có được hiểu là phải thực hiện đầy đủ tất cà các quy trình theo quy định về trình tự đầu tư xây dựng trước khi bàn giao thì mới được tính là “theo quy định” hay thực hiện công tác bàn giao công trình theo khái niệm đã được quy định tại Luật thì mới được coi là “theo quy định”.

Cụ thể: Đối với dự án mà CĐT, ĐVTC,... các bên liên quan đã có biên bản bàn giao công trình đưa vào sử dụng nhưng chưa được kiểm tra công tác nghiệm thu do cơ quan có thẩm quyền thực hiện thì có được tính là hành vi vi phạm đã chấm dứt và tính thời hiệu hay không? Trường hợp này Chủ đầu tư đã có biên bản bàn giao đưa vào sử dụng trên 02 năm thì có được tính lả đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Trả lời:

Thứ nhất, Điều 1 Nghị định số 52/2022/NĐ-CP ngày 08/8/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng (Nghị định số 52/2022/NĐ-CP) quy định: Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng.

Điểm d khoản 6 Điều 2 Nghị định số 52/2022/NĐ-CP quy định: Bộ Xây dựng thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý trật tự xây dựng.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, đồng chí có thể gửi văn bản theo thẩm quyền hoặc tham mưu cho Lãnh đạo đơn vị mà đồng chí đang công tác gửi văn bản đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn, giải đáp theo thẩm quyền để bảo đảm việc hiểu đúng, áp dụng đúng, thống nhất các quy định pháp luật.

Thứ hai, ở khía cạnh nghiên cứu về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về vấn đề đồng chí nêu như sau:

Do không có nhiều thông tin nêu trong câu hỏi nên có thể ý kiến trao đổi của chúng tôi có thể không bám sát được đúng hướng vấn đề của đồng chí đã đặt câu hỏi.

(i) Điểm a khoản 1 Điều 124 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 - Luật Xây dựng (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Việc bàn giao công trình xây dựng phải thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng.

Căn cứ vào quy định nói trên, có thể thấy rằng, một công trình xây dựng chỉ được xác định là đã bàn giao nếu như đã thực hiện việc nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng.

(ii) Khoản 4 Điều 124 Luật Xây dựng (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Trường hợp chưa bàn giao được công trình cho chủ quản lý sử dụng thì chủ đầu tư có trách nhiệm tạm thời quản lý, vận hành công trình xây dựng.

Căn cứ vào quy định nói trên, có thể thấy rằng, trong thực tế, chủ đầu tư có thể đang quản lý, vận hành một công trình xây dựng, nhưng công trình xây dựng đó vẫn chưa được bàn giao theo quy định của pháp luật về xây dựng.

(iii) Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng (Nghị định số 16/2022/NĐ-CP) quy định: “Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động xây dựng ... được tính từ ngày bàn giao công trình, hạng mục công trình theo quy định”.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên có liên quan đến vấn đề xác định thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, đối chiếu với tình huống nêu trong câu hỏi, có thể thấy rằng, nếu công trình xây dựng được xác định là chưa bàn giao, thì tại thời điểm người có thẩm quyền đang thi hành công vụ, nhiệm vụ phát hiện ra hành vi vi phạm về hoạt động xây dựng - đó là hành vi vi phạm đang diễn ra và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ ngày người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp chủ đầu tư đã có biên bản bàn giao đưa công trình xây dựng vào sử dụng trên 02 năm, nhưng chỉ nhận “bàn giao” với mục đích là tạm thời quản lý, vận hành công trình xây dựng, mà công trình xây dựng đó chưa được thực hiện việc bàn giao theo quy định của pháp luật về xây dựng, thì các hành vi vi phạm về xây dựng của công trình xây dựng này không phải là hành vi vi phạm đã kết thúc và như vậy thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về hoạt động xây dựng sẽ được tính kể từ ngày người có thẩm quyền phát hiện ra hành vi vi phạm.

6. Đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 18 Nghị định 16/2022/NĐ-CP. Trường hợp đã hết thời hiệu xử phạt, do không lập BB vi phạm hành chính, QĐ xử lý VPHC thì có phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (Khoản 33 Điều 1 Luật xử lý VPHC sửa đổi chỉ áp dụng đối với trường hợp “tịch thu” tang vật, phương tiện vi phạm .../điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định 16: Buộc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết đình xử phạt vi phạm hành chính, Chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định với hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này).

Trả lời:

Tương tự như câu hỏi trên đây, câu hỏi này cũng không có nhiều thông tin.

Thứ nhất, điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 - Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: “Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm...”.

Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Căn cứ vào các quy định nêu trên của Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020), chúng ta cùng thống nhất rằng, không có hành vi vi phạm hành chính nào bị hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vì lý do không lập biên bản vi phạm hành chính. Mà việc hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (01 năm hoặc 02 năm) đối với hành vi vi phạm phụ thuộc vào thời điểm hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc hoặc thời điểm phát hiện hành vi vi phạm hành chính đang diễn ra.

Thứ hai, điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) quy định về việc xác định hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện theo nguyên tắc sau: Hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện là hành vi đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm hành chính và hành vi đó vẫn đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước”.

Căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên, đối chiếu với hành vi vi phạm không gửi văn bản đến cơ quan chuyên môn về xây dựng đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng (Nghị định số 16/2022/NĐ-CP), có thể thấy rằng, đây là hành vi vi phạm đang diễn ra, vì tại thời điểm người có thẩm quyền tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, chủ đầu tư vẫn chưa thực hiện việc gửi văn bản đến cơ quan chuyên môn về xây dựng để đề nghị cơ quan này thực hiện việc kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Do đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP sẽ được tính kể từ ngày người có thẩm quyền phát hiện ra hành vi vi phạm.

Thứ ba, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định: “Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được áp dụng khi nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả này đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính”.

Trường hợp đồng chí nêu trong câu hỏi được hiểu là áp dụng quy định của Nghị định số 16/2022/NĐ-CP để xử phạt đối với hành vi vi phạm và Nghị định số 16/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (ngày 28/01/2022). Do đó, căn cứ vào quy định nêu trên, có thể thấy rằng, ngoài việc bị áp dụng hình thức phạt tiền, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP, còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP.

Tương tự: Vi phạm đối với HĐXD không có GPXD mà đã hết thời hiệu quy định tại K7 Điều 17 Nghị định 16/2022/NĐ-CP thì có phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là phá dỡ công trình vi phạm. Trường hợp XD nhà thờ không có giấy phép xây dựng, đã xây dựng xong và sử dụng được > 2 năm thì có được tính là hết thời hiệu xử lý VPHC.

Trả lời:

Trước hết, cho phép chúng tôi đính chính, hành vi vi phạm tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng được quy định tại khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP, không phải quy định tại khoản 7 Điều 17 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP như đồng chí đã nêu trong câu hỏi.

Thứ hai, khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Đối với trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 của Luật này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

Thứ ba, điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định: “Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động xây dựng (trừ Điều 9, Điều 10, Điều 19, Điều 20, Điều 21 Nghị định này) và các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 41, điểm b khoản 4 Điều 44, điểm a khoản 2 Điều 45, khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 48, điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 55, khoản 3 Điều 57, điểm b khoản 1, điểm c, điểm đ, điểm e, điểm h, điểm i khoản 2 Điều 63 được tính từ ngày bàn giao công trình, hạng mục công trình theo quy định;...”.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, đối chiếu với tình huống nêu trong câu hỏi và giả định việc bàn giao công trình xây dựng cơ sở tôn giáo đã được thực hiện đúng quy định pháp luật, có thể thấy rằng, trong trường hợp này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP, nhưng vẫn phải ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc phá dỡ công trình xây dựng vi phạm” quy định tại điểm c khoản 15 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP.

7. Theo khoản 1 Điều 83 Nghị định 16/2022/NĐ-CP: “Trường hợp hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc nhưng chưa lập biên bản vi phạm hành chính thì xử phạt theo quy định của nghị định có hiệu lực tại thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Ở điểm này: khái niệm “Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm” và “thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt VPHC” có khác nhau hay không? Ví dụ: công trình đã dừng xây dựng trước khi Nghị định 16/2022/NĐ- CP có hiệu lực mà thuộc đối tượng phải được CPXD nhưng chưa bàn giao đưa vào sử dụng theo quy định. Như vậy xử lý theo quy định tại Nghị định số 16/2022/NĐ- CP hay theo quy định tại Nghị định trước đó.

Trả lời:

Thứ nhất, về “thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm” quy định tại khoản 1 Điều 83 Nghị định 16/2022/NĐ-CP nêu trên, được hiểu rằng, quy định nói trên của Nghị định 16/2022/NĐ-CP nhằm xác định văn bản quy phạm pháp luật sẽ áp dụng để xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Hay nói một cách khác, trường hợp hành vi vi phạm đã kết thúc trước ngày 28/01/2022 (ngày Nghị định 16/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) thì sẽ áp dụng quy định của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 21/2020/NĐ-CP).

Thứ hai, về “thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020), được hiểu rằng, quy định nói trên của Luật XLVPHC (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nhằm xác định thời điểm để “tính” vẫn còn hay đã hết thời hiệu để xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Ví dụ đồng chí nêu trong câu hỏi sẽ có 02 tình huống xảy ra:

Tình huống thứ nhất, hành vi vi phạm tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng quy định tại khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP và việc bàn giao công trình xây dựng đã được thực hiện đúng quy định pháp luật vào ngày 27/01/2022 (trước ngày Nghị định 16/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành).

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 83 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, trong trường hợp này, người có thẩm quyền sẽ áp dụng quy định của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 21/2020/NĐ-CP) để lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Tình huống thứ hai, vẫn là hành vi vi phạm tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng quy định tại khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP và việc bàn giao công trình xây dựng đã được thực hiện đúng quy định pháp luật vào ngày 31/3/2020 (trước ngày Nghị định 21/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Ngày 30/9/2022 (ngày diễn ra Hội nghị tập huấn), người có thẩm quyền qua công tác kiểm tra mới phát hiện ra hành vi vi phạm.

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC và quy định tại khoản 1 Điều 83 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, trong trường hợp này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm, nhưng vẫn phải ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP để xử lý đối với hành vi vi phạm này.